$(document).ready(function () { $(".validate").validationEngine(); });
Thứ tư, 27-02-2019 | 13:55GMT+7

Gặp mặt nghệ nhân Giàng A Su

TBV - Tiếng khèn là linh hồn của người Mông ta - đó là lời bắt đầu câu chuyện của Nghệ nhân Giàng A Su với chúng tôi. Ông không biết chiếc khèn có từ bao giờ, chỉ biết từ khi ông sinh ra và lớn lên đã được làm quen với nó, thấy nó được sử dụng và cất giữ cẩn thận ở vị trí trang trọng nhất của ngôi nhà...
Vượt qua cung đường đèo núi hơn 100 km từ thành phố Yên Bái, chúng tôi có mặt tại huyện vùng cao Trạm Tấu. Trước mắt chúng tôi là những đỉnh núi nhân tạo ruộng bậc thang kỳ vĩ, mùa này đang rực sắc vàng của lúa chín. Chúng tôi may mắn được gặp ông Giàng A Su, sinh năm 1943, người có uy tín trong dân tộc Mông, nguyên Bí thư huyện ủy Trạm Tấu, hiện đang cư trú tại Khu 2, Thị trấn Trạm Tấu, huyện Trạm Tấu, Yên Bái. Các thế hệ đồng bào các DTTS nơi đây, đặc biệt là đồng bào dân tộc Mông xem ông như một cây đại thụ, chỗ dựa tinh thần vững chắc của mình. Ông là một trong những ít người dân tộc thiểu số (DTTS) đã được Nhà nước trao tặng danh hiệu Nghệ nhân dân gian và nhiều huân, huy chương cao quý do đã có những đóng góp to lớn trong phát triển kinh tế- xã hội, đặc biệt là trong việc giữ gìn văn hóa, phong tục tập quán tốt đẹp của dân tộc Mông. Đầu năm 2016, ông vinh dự được Chủ tịch nước trao tặng danh hiệu Nghệ nhân ưu tú.
 

Ông Giàng A Su (ngoài cùng bên phải) đang truyền dạy cách làm khèn và chơi khèn cho con, cháu. (Ảnh: Nhân vật cung cấp)
 
 
Đau đáu giữ gìn tiếng khèn Mông
 
Tiếng khèn là linh hồn của người Mông ta - đó là lời bắt đầu câu chuyện của Nghệ nhân Giàng A Su với chúng tôi. Ông không biết chiếc khèn có từ bao giờ, chỉ biết từ khi ông sinh ra và lớn lên đã được làm quen với nó, thấy nó được sử dụng và cất giữ cẩn thận ở vị trí trang trọng nhất của ngôi nhà. Chiếc khèn được những người đàn ông Mông sử dụng trong những đám ma để tiễn đưa người đã khuất. Tiếng khèn là sợi dây tâm linh nối người sống với người đã khuất. Chiếc khèn được sử dụng trong dịp xuân đến, Tết về và những lễ hội quan trọng nhất của người Mông. Những câu chuyện của con người, của trời và đất được kể bằng giai điệu của tiếng khèn làm thẫm đẫm lòng người. Tiếng khèn là cây cầu bắc lời tỏ tình đôi lứa của riêng những chàng trai, cô gái dân tộc Mông. Theo Nghệ nhân Giàng A Su, mỗi điệu khèn cất lên đều có “cái lý” của nó, bộc bạch về lý do, nguyên nhân, nguồn gốc của sự vật hiện tượng song lại thấm đẫm tình người và đất trời. Nghệ nhân Giàng A Su cũng đã từng nghe về sự tích ra đời của chiếc khèn được lưu truyền trong cộng đồng người Mông. Chuyện kể rằng, xưa có một người con trai yêu rồi lấy một người con gái, sinh ra sáu người con trai giỏi giang, tháo vát. Khi đôi vợ chồng đã già, một hôm, đang ở nhà chờ các con đi nương về thì bị một cơn lũ cuốn trôi đi mất. Thương nhớ đấng sinh thành, sáu người con thảm thiết khóc lóc suốt chín ngày, chín đêm, đến khi giọng bị tắt, họ vào rừng để lấy ống trúc về thổi thay cho tiếng khóc. Cảm thương cho tấm chân tình của những người con hiếu thảo, thần núi đã ban tặng cho họ bí quyết để làm một chiếc khèn, được ghép lại bởi sáu ống nứa với độ dài ngắn khác nhau, tượng trưng cho độ tuổi của sáu anh em, để họ thì thầm vào đó những lời yêu thương, thắm thiết, làm vơi bớt nỗi khổ đau vì mất mẹ, mất cha. Chiếc khèn của người Mông ra đời từ đó.
 
Đã ở cái tuổi “xưa nay hiếm”, nghệ nhân Giàng A Su không nhớ rõ bí quyết làm khèn được truyền dạy trong dòng họ mình từ bao giờ. Chỉ biết rằng, từ đời cụ, đời bố ông rồi đến ông là đời thứ 3 nắm giữ bí quyết này. Cái tâm đau đáu giữ hồn dân tộc qua chiếc khèn bè, khiến ông luôn canh cánh trọng trách truyền nghề và giữ nghề. Theo ông Su, để làm được một chiếc khèn ưng ý phải mất rất nhiều công đoạn. Khèn là nhạc cụ thổi bằng hơi. Khèn được chế tác bằng gỗ cùng sáu ống trúc lớn, nhỏ, dài, ngắn khác nhau. Sáu ống trúc dài ngắn  tượng trưng cho tình đoàn kết anh em. Bên trong các ống trúc đều rỗng. Có một bầu gỗ nối các ống trúc lại với nhau. Trên mỗi thân ống trúc nằm ngang có một lưỡi gà nhỏ bằng đồng. Bên ngoài ống trúc có các lỗ. Muốn thổi ra âm thanh, người thổi phải dùng hai bàn tay giữ khèn, đồng thời lấy các ngón tay để điều khiển các lỗ hơi. Hơi thổi vào khèn sẽ xuyên qua lưỡi gà phát ra âm thanh. Thổi vào hoặc hít ra sẽ tạo âm thanh trầm bổng khác nhau. Ống trúc để làm khèn phải được lựa chọn kỹ lưỡng, phải chọn ống trúc già, chắc, đều, đem phơi nắng để đủ độ khô. Quan trọng nhất là khâu khoét lỗ cho lưỡi đồng rồi bịt lại thật khít. Độ cao, thấp, vang ngân của khèn phụ thuộc vào việc chỉnh các lưỡi đồng, mỏng dầy và to nhỏ ra sao. Tùy kỹ năng của người thổi theo hợp âm, hòa âm, đánh chồng âm, vỗ, luyến... mà tạo nên những khúc nhạc thu hút. Âm thanh của khèn vút cao vừa như trách, vừa như hờn giận, vừa như mời gọi và cũng mạnh mẽ như chính cuộc sống của người Mông vậy. Tiếng khèn như một ma lực đầy quyến rũ, vang vọng, nồng nàn giữa đại ngàn mà thân quen với con người như thắng cố, mèn mén và rượu ngô vậy.
 
Người chơi khèn giỏi là người vừa biết thổi khèn kết hợp với múa khèn. Người thổi được khèn và biết múa khèn đều phải trải qua một quá trình lao động nghệ thuật bền bỉ, công phu và kiên trì, bởi khi vừa thổi vừa múa đòi hỏi phải sử dụng nhiều động tác cùng lúc vô cùng phức tạp. Động tác múa khèn rất đa dạng, phong phú. Múa nhảy đưa chân, quay đổi chỗ, quay tại chỗ, vờn khèn, lăn nghiêng, lăn ngửa, múa ngồi xổm, đi tiến, đi lùi theo bốn hướng, mỗi bước tiến, bước lùi làm sao chỉ để chân này chạm gót chân kia. Động tác cơ bản là khom lưng, quay hất gót tại chỗ và quay hất gót di động trên vòng quay lớn rồi thu hẹp dần theo hình xoắn ốc với tốc độ càng nhanh càng điêu luyện. Đối với các bài khèn vui chơi thì động tác nhảy múa mãnh liệt, phóng khoáng và khó hơn như lăn nghiêng, lăn ngửa, đá gà, đá ngựa, nhảy ngồi xổm, tay nọ vỗ vào chân kia, tay kia vỗ vào chân nọ, tiếng vỗ phải kêu mà tiếng khèn vẫn không dứt.
 
Nghệ nhân Giàng A Su rất vui mừng khi Bộ trưởng Bộ Văn hóa thể thao và du lịch đã quyết định đưa nghệ thuật Múa khèn vào Danh mục di sản văn hóa phi vật thể Quốc gia, loại hình nghệ thuật trình diễn dân gian năm 2015, vì những giá trị lịch sử, văn hóa và khoa học đặc sắc của nghệ thuật này. Tuy nhiên, ông Su cũng bày tỏ rất nhiều trăn trở và lo lắng khi mà bản sắc dân tộc này nguy cơ bị mai một, thất truyền hơn bao giờ hết, khi mà giới trẻ hiện nay quan tâm đến luồng văn hóa ngoại lai hơn là những bản sắc văn hóa dân tộc. Ông lo lắng khi những người như ông mất đi thì ai là người giữ gìn tiếng khèn Mông. Ông tâm sự, từ thời làm Bí thư huyện ủy Trạm Tấu (trước 2005), ông đã mong muốn xây dựng một xưởng để chế tác chiếc khèn, mong muốn là để phổ biến và lưu truyền cho thế hệ mai sau nhưng vì nhiều lý do nên không thực hiện được. Hiện nay, mặc dù tuổi đã cao, sức đã yếu nhưng ông cố gắng truyền lại bí quyết làm khèn và chơi khèn cho con cháu. Người được ông tin tưởng giao giữ trọng trách đấy là người cháu gọi ông bằng bác, đó là anh Mùa A Lồng ở xã Bản Mù, Trạm Tấu, Yên Bái. Ông vui mừng khi anh Lồng đã làm ra được những chiếc khèn mà ông ưng ý.
 
 

Ông Giàng A Su (bên trái) và tác giả tại Trạm Tấu, Yên Bái. (Ảnh: Quàng Dũng (P5/A02))
 
 
Trăn trở phát triển vùng DTTS Yên Bái
 
Ông Giàng A Su cho biết, thực hiện chính sách dân tộc của Đảng, Nhà nước, Đảng bộ và nhân dân Yên Bái đã đạt được những thành tựu về phát triển kinh tế- xã hội. An ninh quốc phòng vùng đồng bào DTTS được củng cố, tăng cường. Tuy nhiên, do xuất phát điểm thấp, thường xuyên phải gánh chịu thiên tai lũ lụt, vị trí địa chính trị phức tạp và nhiều nguyên nhân khác, vùng đồng bào DTTS Yên Bái hiện nay vẫn là một trong những vùng nghèo, lạc hậu nhất nước, tình hình ANTT diễn biến phức tạp. Trong tổng số 61 huyện nghèo nhất của cả nước, Yên Bái có 02 huyện là Trạm Tấu và Mù Cang Chải. Yên Bái hiện có trên 30 dân tộc cùng chung sống, trong đó các DTTS chiếm 53,7% tổng số dân (Dân tộc Tày chiếm 18,27%, Dao chiếm 11,31%, Mông chiếm 11,06%, Thái chiếm 7,17% ...). Địa bàn có đông DTTS cư trú là các huyện Văn Chấn, Lục Yên, Văn Yên, Trạm Tấu, Mù Cang Chải với diện tích tự nhiên chiếm 95,19% diện tích toàn tỉnh. Riêng 2 huyện Trạm Tấu, Mù Cang Chải có tỷ lệ người Mông chiếm trên 90%. Nhờ có chính sách đúng đắn của Đảng, Nhà nước, đời sống vật chất và tinh thần của đồng bào những năm gần đây đã có những cải thiện vượt bậc. Đường ô tô được trải nhựa đã về tận trung tâm xã, đường bê tông và hệ thống điện lưới đã về tận thôn, bản. Giáo dục, y tế, an sinh xã hội được đảm bảo. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực, giá trị sản xuất nông lâm nghiệp, dịch vụ tăng theo các năm. Trang trại nông thôn phát triển khá ở quy mô vừa và nhỏ. Đời sống văn hóa, tinh thần của đồng bào trong vùng được nâng cao. Phong trào toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa được triển khai mạnh mẽ. Yên Bái đã thực hiện hiệu quả nhiều chương trình dự án, chính sách đầu tư phát triển cho vùng đồng bào DTTS và miền núi như: Chương trình 134 (nay là Quyết định 755), Chương trình 135 giai đoạn II và giai đoạn III về phát triển kinh tế, xã hội vùng đặc biệt khó khăn; Chương trình 30a của Chính phủ; Chương trình xây dựng nông thôn mới; chính sách hỗ trợ di dân thực hiện định canh định cư cho đồng bào DTTS; chính sách hỗ trợ trực tiếp cho người nghèo ở vùng khó khăn theo Quyết định 102/2009; chính sách đối với người có uy tín trong đồng bào DTTS. Thông qua đó, đã đóng góp quan trọng cho sự phát triển kinh tế, xã hội của toàn tỉnh nói chung và vùng đồng bào DTTS nói riêng.

Đến nay, vùng đồng bào DTTS của tỉnh đã có sự chuyển biến tích cực, khá toàn diện. Trong đó, tăng trưởng kinh tế bình quân hàng năm đạt trên 11%, đời sống nhân dân từng bước được nâng lên, cơ bản không còn tình trạng đói lưu niên ở vùng cao. Số hộ nghèo giảm bình quân 4%/năm (riêng 2 huyện Mù Cang Chải và Trạm Tấu, tỷ lệ giảm nghèo bình quân đạt trên 6%/năm). Hết năm 2015, tỷ lệ hộ nghèo toàn tỉnh còn 16,02% và còn 32,21% (theo tiêu chí nghèo đa chiều giai đoạn 2016 - 2020). Nhân dân vùng cao, vùng đồng bào DTTS qua các năm đều được bồi dưỡng, tiếp thu kinh nghiệm, kiến thức khoa học vận dụng vào sản xuất và đời sống, bước đầu hình thành một số vùng sản xuất hàng hóa: vùng sản xuất lúa hàng hóa chất lượng cao trên 5.000 ha tại Nghĩa Lộ, Văn Chấn, Văn Yên, Lục Yên; vùng sản xuất ngô hàng hóa 15.000 ha tại Trạm Tấu, Mù Cang Chải, Văn Chấn; vùng sản xuất chè 9.000 ha tại Văn Chấn, Yên Bình, Trấn Yên; vùng sắn cao sản 8.000 ha tại Văn Yên; vùng măng tre Bát độ trên 3.000 ha tại Trấn Yên; vùng quế trên 30.000 ha tại Văn Chấn, Văn Yên; vùng cây sơn tra tại Mù Cang Chải, Trạm Tấu. Đã bước đầu hình thành một số trang trại chăn nuôi đại gia súc bán chăn thả, chăn nuôi lợn, gia cầm công nghiệp, bán công nghiệp; hình thành một số làng nghề truyền thống: dệt thổ cẩm, rèn, mây tre đan; hình thành một số điểm du lịch sinh thái, tham quan, nghỉ dưỡng, tín ngưỡng tâm linh. Các công trình kết cấu hạ tầng được đầu tư tăng thêm như các tuyến đường được mở mới đến thôn của các xã vùng cao, vùng sâu, vùng xa; các công trình thuỷ lợi, nhất là các công trình phúc lợi công cộng khác như: chợ, trường học, trạm y tế xã, điện, nước sạch... được chú trọng đầu tư và đã phát huy hiệu quả, hỗ trợ tích cực cho sự nghiệp phát triển kinh tế, xã hội vùng đồng bào dân tộc. Văn hoá truyền thống tốt đẹp các dân tộc được bảo tồn và phát huy, phong tục tập quán lạc hậu giảm đáng kể. Phong trào: “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”, xây dựng làng, xã, gia đình văn hoá có nhiều tiến bộ. Đã thực hiện thành công cuộc vận động đồng bào Mông ăn chung một tết vào dịp tết Nguyên đán. Các huyện vùng cao như Trạm Tấu, Mù Cang Chải đã xây dựng được hương ước, qui ước thôn, bản.
 
Chia tay Nghệ nhân Giàng A Su, với cái nắm tay thật chặt, tôi vẫn nhớ như in câu nói của ông: “Tiếng khèn là linh hồn, là máu thịt của người Mông ta. Suốt cuộc đời ta gắn với khèn, vui buồn cùng với khèn. Nay ở cái tuổi gần đất xa trời, ta mong muốn thế hệ trẻ, cơ quan Nhà nước hãy giữ lấy tiếng khèn, để nó được vang mãi với núi rừng”. Bên cạnh đó là những trăn trở của ông về phát triển KTXH, đảm bảo ANQP vùng DTTS Yên Bái./.
 
   Thiếu tá,Ths Lê Xuân Trình
Phòng An ninh Dân tộc, Cục An ninh nội địa (P5/A02), BCA