$(document).ready(function () { $(".validate").validationEngine(); });
Thứ sáu, 12-07-2019 | 14:48GMT+7

Về xứ công tử Bạc Liêu ghé thăm các làng nghề truyền thống

TBV - Nói đến Bạc Liêu là không chỉ nói đến vùng đất của những con người hào sảng, trọng nghĩa, nặng tình, mà còn nói đến vùng đất với nhiều làng nghề truyền thống. Không giống như các làng nghề ở những địa phương khác là thường hình thành làng nghề theo kiểu xóm làng ai cũng làm chung một nghề, mà làng nghề ở Bạc Liêu mang một nét đặc trưng độc đáo, được hình thành gắn với văn hóa của từng dân tộc.
Nghề rèn ở Ngan Dừa 

Nghề rèn – Ngan Dừa đã có trên trăm năm.Hiện nay nhiều thợ rèn kỳ cựu ở Ngan Dừa vẫn chưa biết ai là tổ rèn của làng mình. Họ chỉ biết rằng ở địa phương có được nghề rèn là do trước đây có người phương Bắc lưu lạc về đây, sau đó truyền nghề lại.
 

Nghề rèn cũng lắm công phu. Quy trình rèn phải qua biết bao công đoạn từ việc chọn lựa nguyên vật liệu, chuẩn bị nhiên liệu đến thổi bể khí, cặp sắt tôi, quai búa đập…Khi sản phẩm thành hình thì chuyển qua khâu gia công bào, gọt, làm chuôi, tra cán, lau chùi và cuối cùng là bàn giao sản phẩm cho người tiêu dùng. Thông thường 1 lò rèn truyền thống chỉ cần từ 4 – 5 người: 1 người bể, 1 người cặp, 2 - 3 ngươi quay búa (trong đó có búa trưởng).Thực tế những lò lớn người ta vẫn tăng cường, bổ sung nhiều nhân lực, nhất là trong khâu chuẩn bị vật liệu, gia công và bán hàng.

Nghề dệt chiếu

Khi nói về miền Tây sông nước, nhắc đến nghề dệt chiếu, người ta nhớ đến Cà Mau nhiều hơn với câu hát nổi tiếng “Ghe chiếu Cà Mau đã cắm sào trên bờ kinh Ngã Bảy...”. Thế nhưng, từ lâu chiếu Bạc Liêu cũng đã tạo được thương hiệu cho mình bởi những người dân chất phác, gắn bó với nghề. Nhớ xưa kia, do nằm trong địa phận thuộc dòng chảy của sông Hậu, thị trấn Ngan Dừa (huyện Hồng Dân) lại là vùng trũng bị nhiễm phèn nên đây là điều kiện thuận lợi cho cây lác phát triển, nguồn lác có sẵn đã giúp người dân làm chiếu chủ động hơn khi tìm nguyên liệu và tiết kiệm được chi phí. Chính vì đặc điểm tự nhiên được thiên nhiên ban tặng đã hình thành làng nghề lúc nào không hay. Chiếu làm ra được các thương lái đến tận nơi thu mua và đưa đi tiêu thụ khắp các tỉnh, thành.
 

Nghề làm bánh tráng ở thị trấn Ngan Dừa (huyện Hồng Dân)

Nhà nhà ở đây đều tập trung làm bánh, những tiếng nói cười rộn rã dường như xua tan đi cái mệt mỏi của nhiều đêm thức khuya dậy sớm. Với họ, tuy vất vả mà vui, vì sản phẩm bán chạy, mọi người có “đồng ra đồng vô” để trang bị một cái tết đủ đầy. Nghề làm bánh tráng ở đây được truyền qua nhiều thế hệ, đến nay nhiều hộ gia đình vẫn theo đuổi và sống bằng nghề, tuy nhiên thực tế không còn nhiều như trước nữa vì người cho rằng nghề này rất cực, nhiều công đoạn, phải chuẩn bị nguyên liệu từ hôm trước, hôm sau lại phải thức sớm nhóm bếp cho đủ nóng để bắt đầu tráng bánh. Vì thế mà để làm ra những chiếc bánh đậm đà hương vị quê hương, thoạt nhìn rất đơn giản, song thật sự đòi hỏi khá nhiều công đoạn phức tạp. Tuy nhiên, chính bàn tay khéo léo của các mẹ, các chị trong khâu tráng bánh cộng với bí quyết pha bột đã làm nên những chiếc bánh tròn trĩnh, mềm dẻo, thơm ngon nên khách hàng rất ưa chuộng.
 

Mới 4 giờ sáng, những lò làm bánh của các hộ gia đình đã sáng trưng ánh điện để bắt đầu cho một ngày làm việc mới. Chị Trần Ngọc Du (một hộ làm bánh tráng ở ấp Thống Nhất) cho biết: “Gần 2 tháng nay lò hoạt động liên tục để kịp tiến độ. Tôi phải dậy thật sớm để tráng được nhiều bánh kịp giao cho khách. Ngày thường tôi chỉ tráng đến 2 giờ chiều là xuống lò, nhưng giáp tết thì làm không ngơi tay. Một năm bán nhiều nhất vào mùa tết, dù có vất vả nhưng ai cũng hớn hở”.

Trung bình mỗi ngày gia đình chị sản xuất 500 - 700 chiếc với mức thu nhập 2 triệu/tháng. Riêng vào những tháng cuối năm, thu nhập có thể tăng gấp đôi.

Làng nghề bún Ngan Dừa

Cùng với các nghề rèn, làm bánh tráng, dệt chiếu, nghề làm bún ở thị trấn Ngan Dừa cũng đã có tuổi đời hơn trăm năm. Ấp Bà Gồng (thị trấn Ngan Dừa) trước đây được mệnh danh là xóm bún với nhiều hộ đồng bào dân tộc Khmer chuyên sản xuất bún gạo. Không ít gia đình vẫn còn giữ nghề và ăn nên làm ra, điển hình như lò bún của chị Thị Triệu. Chị Triệu chia sẻ: “Gia đình tôi đã 3 đời làm bún. Mỗi ngày tôi chế biến hơn 100kg gạo và tạo ra thành phẩm hơn 200kg bún. Nghề làm bún cũng có nhiều thăng trầm, nhưng một khi đã sống với nghề thì phải yêu nghề”.

Ngày nay, nhờ có các phương tiện máy móc hỗ trợ, nên quy trình sản xuất bún được rút ngắn. Tuy nhiên, nghề làm bún của bà con nơi đây vẫn kết hợp giữa thủ công và hiện đại với các khâu sản xuất bún gần như không thay đổi. Trung bình mỗi lò bún có từ 4 công nhân trở lên (tùy theo số lượng sản xuất). Để làm ra một mẻ bún phải mất hơn 1 ngày. Người làm bún phải dậy thật sớm để ngâm gạo. Khâu chọn gạo và thời gian ngâm gạo sẽ quyết định rất lớn độ dẻo của bún. Kế đến là xay bột và nhào bột, trụng bột, ép bún, bắt bún… Chất lượng cọng bún làm ra tùy thuộc vào tay nghề và kinh nghiệm của người thợ, vì thế mỗi lò bún đều có bí quyết riêng.

Thị trường tiêu thụ bún của xóm bún ấp Bà Gồng chủ yếu là tại địa phương. Bún Ngan Dừa nổi tiếng về độ dẻo, độ dai, sợi bún nhỏ, có vị ngọt, vì thế khách hàng rất ưa chuộng. Nhờ tiêu thụ hàng tại chỗ nên đầu ra của bún đỡ bấp bênh hơn trước. Giá bún mua tại lò từ 7.500 - 8.000 đồng/kg. Với mức giá trên, trung bình 20kg gạo, người làm bún lãi từ 70.000 - 100.000 đồng. Nghề bún đã giúp nhiều gia đình đồng bào dân tộc Khmer có thêm nguồn thu nhập lúc nông nhàn.
Thảo Nguyên (TH)