$(document).ready(function () { $(".validate").validationEngine(); });
Thứ hai, 17-06-2019 | 10:32GMT+7

Phát triển Thủ công mỹ nghệ trong hội nhập quốc tế

TBV - Theo Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, cả nước hiện có hơn 5.000 làng nghề và làng có nghề, thu hút hơn 11 triệu lao động, mang lại giá trị xuất khẩu hơn 1,7 tỷ USD/năm. Những con số trên cho thấy sản phẩm thủ công mỹ nghệ làng nghề đã mang lại nhiều lợi nhuận, góp phần không nhỏ vào sự nghiệp xây dựng đất nước, an sinh xã hội và nâng cao đời sống cho nhân dân.
Cần sự gắn kết giữa nhà sản xuất và thiết kế mẫu mã
 
Song, các sản phẩm thủ công mỹ nghệ còn có thể mang lại nhiều lợi nhuận hơn nữa nếu được quan tâm đến kiểu dáng và mẫu mã. Nhiều năm trước, hàng thủ công mỹ nghệ Việt Nam được thị trường nước ngoài ưa chuộng bởi có mẫu mã mới lạ, giá thành hợp lý. Hiện nay, sức hấp dẫn bị giảm đi đáng kể khi không có sự thay đổi mẫu mã, nhu cầu của khách hàng ngày càng được nâng cao. 
 
Trở lại thị trường trong nước, điều này cũng không khá gì hơn. Phần lớn các sản phẩm làng nghề vẫn được sản xuất theo hình thức mẫu mã cổ truyền như tranh tứ linh, tranh tứ quý (khảm trai, sơn mài), hạc đồng, đỉnh đồng, chuông đồng (đúc đồng), sập gụ, tủ thờ, hoành phi, câu đối (mộc mỹ nghệ, chạm khắc gỗ), chụp đèn, bàn ghế (mây tre đan)… Một số sản phẩm cũng được cải tiến cho phù hợp với thị hiếu người tiêu dùng, tuy nhiên nhìn chung hình thức, mẫu mã của các sản phẩm thủ công mỹ nghệ tại các làng nghề còn chậm cải tiến, đối mới, đột phá để theo kịp với sự phát triển đa dạng của kinh tế thị trường. 
 

Chủ tịch Hiệp hội Làng nghề Việt Nam Lưu Duy Dần thăm gian hàng của Nghệ nhân Nguyễn Văn Trung tại Hội chợ quốc tế quà tặng hàng thủ công mỹ nghệ Hà Nội 2018.
 
Để có một mẫu mã đẹp cho sản phẩm thủ công mỹ nghệ không phải là chuyện của ngày một, ngày hai mà là một quá trình tìm kiếm, chắt lọc và sáng tạo. Có những nghệ nhân cả đời làm nghề chỉ tạo ra được một vài mẫu có giá trị, hay còn được gọi là để đời. Có nhiều nghệ nhân suốt đời làm nghề, kinh nghiệm và kỹ thuật tinh xảo có thừa song lại không có khả năng sáng tạo. Bởi vậy, để có một mẫu mã mới, đòi hỏi người nghệ nhân không chỉ khéo léo về kỹ thuật, kỹ xảo, nắm vững được đặc tính của chất liệu chế tác mà còn đòi hỏi khả năng tư duy sáng tạo và tâm hồn nghệ sỹ của nghệ nhân Thủ công Mỹ nghệ.
 
Hiện nay có một thực tế, ở các làng nghề số lượng nghệ nhân tài hoa, hiểu sâu về kỹ thuật, kỹ xảo nghề truyền thống không có nhiều. Lớp nghệ nhân cao tuổi thì sức yếu, hạn chế về khả năng nắm bắt thị hiếu, thị trường, trong tiềm thức luôn lệ thuộc vào các mẫu mã truyền thống. Còn những người trẻ được học hành bài bản, có sự năng động, nhạy bén nhưng lại chưa có nhiều kỹ năng, kỹ xảo với nghề, hạn chế hiểu biết những chuẩn mực về giá trị truyền thống, thích chạy theo sự tân kỳ, bắt chước, sao chép mẫu sẵn có và cải biên chút ít để… làm mới. Đấy cũng là sự hạn chế nhất định cho phát triển mẫu mã, kiểu dáng thiết kế sản phẩm thủ công mỹ nghệ hiện nay.
 
Một lý do quan trọng nữa cắt nghĩa sự chậm phát triển của mẫu mã, thiết kế kiểu dáng sản phẩm thủ công mỹ nghề Việt Nam là hầu hết các cơ sở sản xuất làng nghề đều ở quy mô nhỏ lẻ (hộ gia đình), năng lực về vốn, mặt bằng và cơ sở vật chất hạn chế nên không thể đầu tư chiều sâu cho việc thiết kế mẫu mã mới.

 

Chủ tịch Hiệp hội Làng nghề Việt Nam Lưu Duy Dần thăm gian hàng của Nghệ nhân 
Lê Thị Thuận tại Hội chợ quốc tế quà tặng hàng thủ công mỹ nghệ Hà Nội 2018.
 
Nhiều ý kiến cho rằng, muốn sản phẩm thủ công mỹ nghệ phát triển mạnh mẽ hơn nữa phải “bật” được khỏi tư duy truyền thống thì mới tiếp tận được sâu với thị trường. Đó là một quan điểm song có lẽ chỉ ở một khía cạnh. Đơn cử lấy ví dụ trường hợp sản phẩm thủ công mỹ nghệ của Huế. Trước năm 2015, dù Huế rất phát triển về du lịch song thị trường sản phẩm lưu niệm èo uột, nhiều cái phải nhập từ các tỉnh thành khác về bán, trong khi Cố đô Huế từng là một trong những cái nôi của thủ công mỹ nghệ và làng nghề ở Việt Nam. Sau khi lãnh đạo tỉnh Thừa Thiên - Huế đưa ra quy chế để cấp “Con dấu nhận diện sản phẩm thủ công mỹ nghệ Huế” với những sự bảo trợ và hỗ trợ cho các cơ sở sản xuất, làng nghề, lập tức bộ mặt thị trường sản phẩm lưu niệm Huế thay đổi hẳn. 
 
Theo quy chế, sản phẩm muốn được cấp con dấu này ngoài những yêu cầu phải rõ ràng về nguồn gốc, xuất sức nguyên vật liệu sản xuất, nơi sản xuất phải trên địa bàn tỉnh… thì một quy định rất rõ là phải có bản sắc văn hóa Huế. Những sản phẩm thủ công mỹ nghệ mang hơi thở, hình ảnh mảnh đất, con người Huế liên tục ra đời và mang lại sự hấp dẫn cho du khách trong và ngoài nước khi đến với đất Cố đô.
 
Để những vấn đề đặt ra ở trên trở thành thực tế, nhất thiết phải có sự bắt tay của hai “nhà”: nhà thiết kế và nhà sản xuất.
 
Với nhà thiết kế, cần có sự thực tế của nhà sản xuất để mẫu mã sản phẩm vẫn mang được bản sắc dân tộc, hơi thở của vùng miền; vẫn tận dụng được tinh hoa công nghệ truyền thống, vừa có thể áp dụng công nghệ mới; dễ tổ chức sản xuất, đáp ứng được yêu cầu về số lượng lớn cho cả tiêu thụ trong nước và quốc tế, đồng thời phù hợp văn hóa, tập quán của vùng miền hay từng quốc gia tiêu thụ sản phẩm; kích thước, chất lượng, nguyên vật liệu và giá thành thành phẩm cần phù hợp với đối tượng khách hàng; sản phẩm vừa là mỹ thuật đơn thuần, vừa có thể là sản phẩm mỹ thuật ứng dụng…
Đối với nhà sản xuất, để nhà thiết kế đủ dữ kiện và thăng hoa sáng tạo, phải có sự chia sẻ, hợp tác, hỗ trợ tối đa. Bên cạnh đó, ở mỗi bước trong quá trình sáng tạo, cả nhà thiết kế và nhà sản xuất phải liên tục bàn bạc, đánh giá để đưa ra những lựa chọn tối ưu nhất, chuẩn bị cho bước kế tiếp. Thậm chí, nhà sản xuất còn phải đem những gì đã phác thảo được thăm dò trước thị trường để đánh giá tiềm năng tương lai của sản phẩm có thiết kế, mẫu mã mới.
 
Một số giải pháp 
 
Đã từ rất lâu, kể từ khi đổi mới đất nước, các vấn đề lớn cần giải quyết của thủ công mỹ nghệ Việt Nam nhằm phát huy các lợi thế, tiềm năng và giải quyết các khó khăn của phát triển trong hội nhập quốc tế là thiếu vốn đầu tư (cho ứng dụng hợp lý công nghệ mới và trang bị máy móc cần thiết, cho mở rộng mặt bằng và quy mô sản xuất, phát triển vùng nguyên liệu, cho thực hiện các đơn hàng lớn…). Thiếu vốn luôn là vấn đề bình thường của sản xuất, nhưng nhiều doanh nghiệp, cơ sở không tiếp cận được nguồn vốn là vấn đề không bình thường.
 
Cần giải quyết các vấn đề phát triển nguồn nguyên liệu bền vững, yếu tố quan trọng để giữ lại nhiều nghề thủ công mỹ nghệ cùng bản sắc văn hóa vùng miền, đồng thời hạn chế khai thác cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên. Đây không chỉ là bài toán quy hoạch phát triển, mà còn là giải pháp KHCN, phương thức tổ chức liên kết sản xuất, để đảm bảo hiệu quả, công bằng của chuỗi giá trị, tạo thế cạnh tranh cho sản xuất nguyên liệu.
 
Vấn đề đào tạo nguồn nhân lực cần được giải quyết thấu đáo, lâu dài, dựa trên một hệ thống đào tạo, tập huấn, truyền nghề sát với nhu cầu thực tế, dựa vào cộng đồng và có cơ chế phù hợp để hai thác tối đa nguồn tri thức bản địa, kết hợp với ứng dụng công nghệ mới.
 
Cần giải quyết vấn đề môi trường sản xuất, môi trường nông thôn, làng nghề. Ai thải rác, người đó phải có trách nhiệm xử lý, xử lý từ nguồn thải. Môi trường nông thôn trước hết phải dựa vào nguồn lực của cộng đồng nông thôn. Cần phân biệt đối tượng, để có chính sách phân biệt hợp lý giữa các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất quy mô khác nhau và hộ gia đình; không để lợi dụng chính sách và ỷ lại Nhà nước như hiện nay.
 
Còn rất nhiều vấn đề cần giải quyết đồng bộ, như: văn hóa phải là động lực phát triển, kết hợp hài hòa các giá trị văn hóa truyền thống với giá trị văn hóa mới, giữa thị hiểu người Việt với quốc tế trong phát triển thủ công mỹ nghệ; cần giải quyết tình trạng hỗ trợ chậm chạp, yếu kém, thiếu hiệu quả của KHCN cho thủ công mỹ nghệ; khắc phục hệ thống quản lý nhà nước về ngành nghề thủ công đầy rắc rối, chồng chéo nhưng lại bỏ trống, thiếu trách nhiệm, thiếu hiệu lực, hiệu quả như hiện nay. Các tổ chức phi Chính phủ vốn có vai trò ngày càng quan trọng trong thể chế kinh tế - xã hội, nhưng vẫn bị bỏ rơi, hoạt động vật vờ, mang tính hình thức, chưa là kênh phát huy mạnh mẽ vai trò cộng đồng ngành nghề cũng là vấn đề cần giải quyết sớm.
 
Vấn đề cuối cùng, là hỗ trợ phát triển thị trường. Bên cạnh tất cả các giải pháp đã nêu trên nhằm tạo nên nội lực cho tiêu thụ sản phẩm, thì giải pháp hỗ trợ xây dựng thương hiệu, giám sát công nhận thương hiệu, chất lượng sản phẩm, xúc tiến thương mại, xây dựng hệ thống thông tin cung cầu, hỗ trợ tổ chức liên kết chuỗi giá trị… là các yếu tố mà từng doanh nghiệp, cơ sở sản xuất, hộ gia đình không thể tự lo một mình.
Lưu Duy Dần
Chủ tịch Hiệp hội Làng nghề Việt Nam