$(document).ready(function () { $(".validate").validationEngine(); });
Thứ năm, 18-04-2019 | 10:56GMT+7

Ninh Bình: Để các làng nghề “cháy” mãi với thời gian

TBV - Hiện nay, tỉnh Ninh Bình có 75 làng nghề. Theo thời gian, các làng nghề có lúc thăng, lúc trầm, tuy nhiên có làng nghề vẫn tồn tại hàng trăm năm và ngày càng khẳng định được giá trị trong cuộc sống hiện đại như: Làng nghề đá mỹ nghệ Ninh Vân, làng nghề thêu Văn Lâm, làng nghề gốm Gia Thủy, Bồ Bát… Nhờ sự sáng tạo, đôi bàn tay tài hoa và đặc biệt là tình yêu với nghề của các thế hệ nghệ nhân đã góp phần tạo nên sức sống mãnh liệt cho mỗi làng nghề.
Chúng tôi tìm đến xưởng mộc của ông Vũ Văn Chung - một nghệ nhân của làng nghề mộc Quỳnh Phong. Pha ấm trà nóng rồi chậm rãi kể cho chúng tôi nghe về cái nghiệp mà ông đeo đuổi gần trọn cuộc đời, ông Chung chia sẻ, năm nay ông đã bước qua cái tuổi “Thất thập cổ lai hy”, nhưng trời còn cho sức khỏe thì ông chưa nghĩ đến việc rời xa nghề, mặc dù với ông, làm nghề bây giờ không phải vì áp lực kinh tế nữa mà bởi lẽ, ông còn nặng lòng lắm với cái nghề đã giúp ông ổn định cuộc sống nơi đất khách. Ông nhớ ngày xưa, người làng Ninh Phong quê ông (thuộc thành phố Ninh Bình ngày nay) chỉ có mỗi một nghề, ấy là nghề mộc. Khi tổ tiên của ông Chung đi khai hoang, lập nghiệp ở vùng đất Quỳnh Phong đã mang theo cái nghề này như một “bảo bối” để sinh nhai, để tồn tại. Khi mới chỉ là cậu bé 13, 14 tuổi ông Chung đã là một thợ phụ lành nghề của gia đình. Ông cùng đoàn thợ của cha đi dựng nhà ở khắp nơi. Đến năm 17 tuổi, ông thực sự trở thành thợ độc lập. Không dừng lại ở việc làm nhà, dần dần, ông Chung tự nghiên cứu và làm ra những sản phẩm tinh xảo hơn như tủ, bàn ghế, trường kỷ… Đến bây giờ thì ông chỉ làm những sản phẩm đòi hỏi kỹ thuật điêu luyện đó là đồ thờ, như: khám thờ, đục kiệu, bát biểu, nhang án thờ, cuốn thư, hoành phi, câu đối, cửa võng cùng với nghề sơn son thiếp vàng.
 

Phơi hàng cói xuất khẩu tại Doanh nghiệp Đổi Mới huyện Kim Sơn.

Ông Chung tự hào, nghề mộc là nghề gia truyền của làng Quỳnh Phong. Cũng có lúc làng nghề thăng trầm, nhưng cha truyền con nối, các thế hệ người dân nơi đây không ngừng nỗ lực gìn giữ nghề truyền thống của làng để rồi có sự khởi sắc như hôm nay. Là xưởng mộc lớn trong làng, lại chuyên làm những mặt hàng tinh xảo nên nhiều thanh niên trong và ngoài xã đã tìm đến ông Chung để học nghề. Cả 3 người con trai của ông cũng nối nghiệp ông làm nghề mộc và cũng thuộc hàng thợ có tiếng tăm. Ông Chung không hề giấu nghề. Những người đến học nghề đều được ông chỉ bảo, đào tạo chu đáo. Đến nay, ông đã truyền nghề cho gần 100 con, cháu trong làng. Sau khi vững tay nghề, có người ở lại làm việc cho ông, cũng có người mở xưởng riêng. “Với chúng tôi, một năm thành công không chỉ đánh dấu bằng việc sản xuất ra bao nhiều sản phẩm để đưa ra thị trường, mà còn là truyền dạy nghề được cho bao nhiêu người, thắp lên tình yêu nghề cho bao nhiêu thợ trẻ… Nhìn lớp lớp thợ trẻ hăng say sáng tạo, nghe tiếng máy cưa, máy xẻ vang quanh năm tôi cảm thấy vui, tự hào khi được góp sức cùng tổ tiên duy trì và phát triển nghề mộc truyền thống”- Nghệ nhân Vũ Đức Chung cho biết.

Tìm về thăm thủ phủ của làng nghề gốm Bồ Bát tại thôn Bạch Liên, xã Yên Thành, Yên Mô, chúng tôi gặp nghệ nhân ưu tú Phạm Văn Vang - người có công nhóm lại ngọn lửa cho lò gốm cổ. Anh Vang kể cho chúng tôi nghe về lịch sử của làng nghề: Theo tài liệu để lại, nghề làm gốm Bồ Bát đã có niên đại khoảng trên 3.000 năm. Vào thế kỷ thứ IX, thứ X, những sản phẩm của làng gốm Bồ Bát rất được thịnh hành, những người thợ tài hoa của làng đã sáng tạo ra những sản phẩm cao cấp như gạch đất nung “Đại Việt quốc quân thành chuyên” - loại gạch chuyên dùng để xây thành. Bên cạnh đó là những sản phẩm gốm tinh xảo như đầu rồng, mặt linh thú, bát đĩa, đồ gia dụng... Những sản phẩm của làng gốm Bồ Bát vinh dự được cung tiến vua Đinh nên làng từ đó có tên là Bát Cống. Tuy nhiên vào năm 1010, những nghệ nhân giỏi của làng nghề đã theo triều đình nhà Lý dời đô về Thăng Long và định cư ở vùng ven sông Hồng, nơi có vùng đất sét tốt để sản xuất gốm sứ và tạo nên làng gốm sứ Bát Tràng nổi tiếng ngày nay. Nghề gốm sứ Bồ Bát đã bị “thất truyền” từ đó…

Dẫn chúng tôi đi thăm những lò gốm đang rực lửa, anh Vang tâm sự: Với tình yêu, niềm tự hào về một nghề có chiều dài lịch sử, các thế hệ nghệ nhân làng nghề gốm Bồ Bát sẽ nâng niu để ngọn lửa nghề cháy mãi. Không những nhóm lại ngọn lửa lò gốm cổ vốn đã nguội tắt, những nghệ nhân làng nghề sẽ làm sống lại thương hiệu gốm cổ Bồ Bát lừng danh một thời”. Rồi anh Vang kể cho chúng tôi nghe về quá trình anh đưa nghề trở lại với quê hương. Anh vốn là con cháu của dòng họ Phạm, một dòng họ đang sinh sống và làm gốm tại Bát Tràng. Vì thế, anh luôn khát khao phục dựng lại nghề tổ. Để thực hiện được ước mơ này, rời ghế nhà trường, thay vì thi đại học như bạn bè cùng trang lứa, anh Vang lại khăn gói lên Bát Tràng để tìm thầy học nghề. Với khả năng học nhanh, sáng tạo nên chỉ sau 3 năm, anh Vang đã học được nghề gốm truyền thống. Khi đã tự tin vào tay nghề của mình, anh thuê được lò riêng ngay tại Bát Tràng và tự chế tác các tác phẩm mang thương hiệu Bồ Bát để đi giới thiệu sản phẩm và mở được 150 điểm ký hợp đồng mua hàng và giới thiệu sản phẩm tại thị trường Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh. Được sự ủng hộ của gia đình và người dân làng Bạch Liên, năm 2003, anh Vang đã quyết định về quê lập nghiệp và xây dựng được xưởng sản xuất gốm rộng hơn 300 m2 với hơn 20 thợ làm gốm tại chính gia đình mình. Sau khi tìm hiểu kỹ về thị trường, anh Vang đầu tư vào xưởng gốm, đồng thời anh tuyển 10 thanh niên gửi ra Bát Tràng học nghề. Đến năm 2009, khi sản phẩm gốm của anh đã có chỗ đứng, để có thêm người làm, anh Vang mở lớp dạy nghề và trực tiếp đứng ra giảng dạy theo kiểu cầm tay chỉ việc ngay tại xưởng.

Ninh Bình hiện có 86 nghệ nhân, trong đó có 2 nghệ nhân được công nhận là Nghệ nhân Ưu tú. Không chỉ gửi trọn tình yêu, sức sáng tạo vào đôi bàn tay tài hoa để tạo ra những tuyệt phẩm sống mãi với thời gian mà chính sự thăng hoa ấy của mỗi nghệ nhân đã trở thành cảm hứng sáng tạo cho những người thợ trẻ. Sự giao thoa tình yêu nghề giữa các thế hệ ấy chính là ngọn lửa hồng để các làng nghề “cháy” mãi cùng thời gian.
Bài và ảnh Đào Hằng