$(document).ready(function () { $(".validate").validationEngine(); });
Thứ sáu, 12-04-2019 | 09:31GMT+7

Hà Tĩnh: Thắm tình nón lá Ba Giang

TBV - Ai về Thống Nhất, Ba Giang/Quê hương nón trắng tơ vàng là đây”... Xã Phù Việt (Thạch Hà) hơn 200 trăm năm nay đã nổi tiếng với nghề làm nón. Từ một “căn cứ” cách mạng, chứng nhân lịch sử của dân tộc VN, thì nay, làng nghề nón lá Ba Giang (Phù Việt) đã trở thành một niềm tự hào của người dân Thạch Hà. Song, những năm gần đây, Phù Việt vẫn đang loay hoay đi tìm hướng đi mới cho nón lá Ba Giang.
Biểu tượng văn hóa của một làng quê giàu truyền thống

Ở mảnh đất mà thiên nhiên vốn không dành nhiều “ưu đãi”, người dân Phù Việt chủ yếu sống bằng nghề làm ruộng, để phục vụ cho cuộc sống và tăng thêm thu nhập, họ tranh thủ lúc nông nhàn để làm nón. Chẳng biết từ bao giờ, những chiếc nón lá đã đi vào cuộc sống của người dân Phù Việt một cách thân thiết, gần gũi mà đẹp đến vậy. Vẻ đơn sơ, mộc mạc của nón lá Ba Giang chính là vẻ đẹp thuần khiết, không tô vẽ của những người lao động chất phác, thật thà.

Xưa kia, vùng đất Phù Việt là một “địa chỉ đỏ” của cách mạng nước ta - một căn cứ quan trọng của phong trào Xô Viết - Nghệ Tĩnh. Người ta xem nón lá Ba Giang như một chứng nhân lịch sử, một vật dụng gắn liền với sự nghiệp giải phóng dân tộc của dân tộc Việt Nam. Người ta kể lại rằng, các chiến sĩ khi tham gia kháng chiến, đi đến Quảng Bình, Quảng Trị đã học được cái nghề làm nón ở nơi đây. Sau nhiều năm, họ trở về quê hương và truyền lại cho bà con ở nơi đây. Từ việc “cách điệu” và sáng tạo hơn nên nón lá Ba Giang đã trở thành một thương hiệu nổi tiếng và gần gũi với bà con nông dân.
Ông Nguyễn Đăng Thuần – PCT UBND xã Phù Việt chia sẻ, được sinh ra và lớn lên tại mảnh đất Phù Việt là một niềm tự hào đối với chúng tôi – Mảnh đất giàu truyền thống văn hóa và cách mạng. Nón lá là một sản phẩm độc đáo, mang đậm màu sắc văn hóa, là sản phẩm chủ lực của xã. Từ những năm 1930 – 1931, người ta đã bắt đầu làm nón và nón lá Ba Giang cũng giống như một người chiến sĩ vậy. Những bức thư, cuốn nhật ký được che đậy kỹ càng dưới những chiếc nón. Ngày đó, các cuộc họp quan trọng được các cán bộ kháng chiến tổ chức với hình thức đan nón. Nên nhiều lần đã đảm bảo an toàn cho các cán bộ cách mạng. Tuy nhiên, sau nhiều lần ập đến và không tìm ra manh mối, Pháp đã dã man thiêu rụi Phù Việt, chúng đốt hết nhà cửa, làng xóm và những chiếc nón theo đó cũng hóa thành tro. Nên sau này khi nhắc đến Phù Việt người ta gọi là “Làng Đỏ”.
 

Các nghệ nhân thống Thống Nhất đang hăng say đan nón lá

Với kỹ thuật làm nón khá phức tạp, đòi hỏi những bàn tay tỉ mỉ, khéo léo của các nghệ nhân. Người ta làm những khuôn sẵn, dùng hai lá cọ non, ở giữa lót một lớp vỏ măng tre, lật ngược, tựa vào hai bắp đùi mà uốn lá theo hình chóp. Nón được định hình dần nhờ lớp xương bằng sợi giang nhỏ (chừng một ly) uốn xoáy trôn ốc, vừa uốn vừa khâu, liền kề nhau từ trong ra. Khi đạt độ lớn cần thiết mới khâu vành cái (to bằng ngón tay trỏ người lớn) rồi cắt phần lá dư và khâu viền lại bằng sợi vọt. Lá tơi được dùng làm nón, các nghệ nhân chọn lọc  vô cùng kỹ lưỡng và cẩn thận. Qua bàn tay khéo léo của họ, từ những chiếc lá đơn điệu trở thành những chiếc nón đẹp đẽ với những đường may tinh tế -  quả là một điều kỳ diệu.

Nón đối với những người con Phù Việt không chỉ là vật dụng để che mưa, che nắng mà còn là một người bạn tâm tình, sát cánh trong công việc đồng áng. Những ngày hè oi ả, mẹ cầm chiếc nón quạt ru con ngủ, các bà ngồi kể chuyện cho nhau nghe dưới gốc đa đầu đình phe phẩy chiếc nón…những hình ảnh vô cùng gần gũi, thân thuộc in sâu vào tâm trí những con người ở nơi đây.

Giải pháp nào cho nón lá Ba Giang?

Để làm được những chiếc nón lá đẹp, bền là cả một nghệ thuật đòi hỏi người làm cần có sự tỉ mỉ, công phu. Tuy làm vất vả với nhiều công đoạn mới ra được một sản phẩm hoàn chỉnh nhưng sản phẩm lại được bán với giá rẻ. Hiện nay, một chiếc nón lá thường được bán từ 20-50 nghìn đồng, loại nón đẹp nhất cũng chỉ được bán với giá 60-80 nghìn đồng. Là một nghệ nhân làm lâu năm ở đây, ông Nguyễn Văn Lâm ( Thống Nhất, Phù Việt) chia sẻ, là một người làm lâu năm, có kỹ thuật thì tôi là được 2 nón lá/1 ngày, tính ra chỉ được 120 nghìn đồng/ 1 ngày nên cũng gặp nhiều khó khăn trong đời sống hằng ngày. Những người trẻ thường họ sẽ tìm những công việc khác, lương cao hơn để mưu sinh. Vì thế, dần dần không còn nhiều người thiết tha với nghề đan nón.
 

Các nghệ nhân khéo léo và tỉ mỉ đến từng đường kim mũi chỉ
 
Ông Thuần cũng chia sẻ rằng, các đây hơn 20 năm về trước ở Phù Việt hơn 80% dân số làm nghề nón lá. Đi đến đâu cũng thấy người người, nhà nhà say sưa tỉ mỉ từng đường kim mũi chỉ. Tuy nhiên, 20 năm trở lại đây, số lượng người ít hẳn, chỉ còn lại các bà các mẹ trên 40 tuổi còn làm nghề. Theo thống kê năm 2018, chỉ còn khoảng 45 hộ gia đình còn làm nghề làm nón lá. 

Lí giải về việc này, ông nói, đầu tiên là do thu nhập từ nón không đảm bảo được cuộc sống của họ, những người có sức lao động cao họ tìm những việc khác lương cao hơn; chỉ còn một số người tranh thủ những lúc rảnh rỗi để đan nón, kiếm thêm thu nhập vì thế  đôi khi “cung không kịp cầu”, thương lái đến đặt hàng nhưng không đủ nón. Thứ 2, trung bình một người làm được 2 cái nón/ 1 ngày, mất rất nhiều thời gian, công sức và lí do sức khỏe nên nhiều người trẻ không đủ kiên nhẫn để theo nghề này. Việc tiêu thụ thì chủ yếu còn buôn bán nhỏ lẻ, gặp nhiều khó khăn.

Khi được hỏi UBND xã Phù Việt đã có những biện pháp nào để chống lại những biểu hiện mai một của làng nghề làm nón Ba Giang? – Ông Trần Hữu Nghĩa – Chủ tịch UBND xã Phù Việt nói, chúng tôi cũng đã thành lập các tổ hợp tác sản xuất nón lá Ba Giang, với các Câu lạc bộ hơn 30 thành viên tham gia. Tổ chức các buổi tập huấn về các phương pháp thêu thùa, khắc tên…Nhưng một thời gian sau, nhận ra không phù hợp với nón Ba Giang, nón thường được người nông dân sử dụng nên việc thêu thùa không phù hợp ( nón được thêu hoa có giá cao hơn 110 nghìn đồng/1 cái). Nón lá Ba Giang thường được làm dày và chất  lượng hơn những ở các vùng khác, nên nếu được đưa vào các vùng có thời tiết nắng nóng, nương rẫy nhiều thì giá trị có thể cao hơn.

Giữ gìn được một nghề truyền thống đã khó, thì việc phát triển nghề đó còn khó hơn, nhất là trong thời đại nền kinh tế thị trường phát triển. Khi các làng nghề khác đã có những bước đi mới, thì nón lá Ba Giang lại đang loay hoay với cơm, áo, gạo tiền…và vẫn đang gặp khó khăn trong quản lý, tiêu thụ, đội ngũ kế cận. Thì giải pháp nào là tốt nhất đối với làng nghề làm nón Ba Giang ở Phù Việt? Đó vẫn là một câu hỏi lớn đối với chính quyền và nhân dân xã Phù Việt.
Bài và ảnh: Huyền Trang